TÌM KIẾM
HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG








 
DỰ ÁN


SẢN PHẨM CỦA CTY ĐẠI THUẬN

MTV MEDIA


THỐNG KÊ TRUY CẬP
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay36
mod_vvisit_counterTất cả2960

Hiện đang online : 7

Một sổ câu hỏi và trả lời thường gặp về hữu trí tuệ


Khái niệm sở hữu công nghiệp đã được chính thức dùng trong các văn bản pháp luật của Việt Nam (Pháp lệnh về sở hữu công nghiệp năm 1989) và trong các Hiệp định quốc tế (Công ước Paris năm 1883). Sở dĩ có tên gọi sở hữu công nghiệp là vì đối tượng của hai loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất, có giá trị kinh tế trong lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó bao gồm cả hoạt động công nghiệp và thủ công nghiệp. Người nào làm chủ các tài sản này thì có thể khai thác lợi ích kinh tế của chúng và có lợi thế trong kinh doanh.

2. Các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ gồm những gì?
Các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá, tên thưng mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật thương mại, chống cạnh tranh không lành mạnh, thiết kế bố trí mạch tích hợp, giống cây trồng, và các đối tượng khác do pháp luật quy định. Nhà nước bảo hộ mọi sáng tạo hữu ích về mặt công nghiệp có lợi cho xã hội và có giá trị chân chính, do cá nhân hay do pháp nhân làm ra

3. Sự xác lập quyền Sở hữu công nghiệp theo văn bằng bảo hộ như thế nào?
Quyền Sở hữu đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá được xác lập theo văn bằng bảo hộ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.
Quyền sở hữu đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác cũng được xác lập theo quy định của pháp luật.

4. Quyền nộp đơn yêu cầu việc cấp bằng bảo hộ được pháp luật quy định như sau:
1. Những người sau đây có quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp:
- Tác giả, đồng tác giả tạo ra sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp bằng công sức và chi phí riêng của mình.
- Người sử dụng lao động đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp do người lao động tạo ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao, nếu không có thoả thuận khác;
- Cá nhân, pháp nhân giao kết hợp đồng thuê nghiên cứu, triển khai khoa học - kỹ thuật với tác giả nếu không có thoả thuận khác;
- Cá nhân, pháp nhân được chuyển giao sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác sản xuất, kinh doanh hợp pháp có quyền nộp đơn yêu cầu cấp bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của mình.
3. Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác sản xuất, kinh doanh sản phẩm đặc biệt tại địa phương có những yếu tố đặc trưng có quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá cho sản phẩm của mình.
Tóm lại tất cả những ai tạo ra được quyền sở hữu, đã hợp đồng với người khác để tạo ra hoặc được chuyển giao hợp pháp quyền này đều có thể nộp đơn cấp văn bằng bảo hộ.

5. Thời hạn bảo hộ ra sao?
Quyền sở hữu đối với các đối tượng Sở hữu công nghiệp được bảo hộ trong thời hạn văn bằng bảo hộ có hiệu lực và có thể được gia hạn theo quy định của pháp luật. Thời hạn bảo hộ mang tính pháp định.

6. Việc huỷ bỏ văn bằng bảo hộ như thế nào
Văn bằng bảo hộ có thể bị huỷ bỏ trong các trường hợp sau:
- Vào thời điểm cấp văn bằng bảo hộ đối tượng nêu trong văn bằng bảo hộ không đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật;
- Văn bằng bảo hộ được cấp cho người không có quyền nộp đơn;
- Những trường hợp khác do pháp luật quy định.
Trong trường hợp văn bằng bị huỷ bỏ, thì không làm phát sinh quyền sở hữu công nghiệp. Sự huỷ bỏ văn bằng bảo hộ khi giá trị thật sự của văn bằng là không có vì không đúng tiêu chuẩn và quy định của pháp luật.
7. Quyền của chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp như thế nào?
Chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá có các quyền sau:
- Độc quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
- Chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp cho người khác;
- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại.
Quyền sở hữu đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá có thể được để thừa kế hoặc chuyển giao cho người khác. Tức là quyền chủ sở hữu như mọi quyền chủ sở hữu khác nói chung.

8. Quyền của người có quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá ra sao?
Người có quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá có các quyền sau đây:
- Sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá cho các sản phẩm của mình;
- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người sử dụng bất hợp pháp tên gọi xuất xứ hàng hoá phải chấm dứt việc sử dụng bất hợp pháp đó và bồi thường thiệt hại.
Quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá không được chuyển giao cho người khác bằng bất cứ hình thức nào.
9. Nghĩa vụ của chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp được quy định ra sao?
Chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp có các nghĩa vụ sau đây:
- Trả thù lao cho tác giả trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu, nếu chủ sở hữu và tác giả không có thoả thuận khác.
- Nộp lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng bảo hộ;
- Sử dụng hoặc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp cho người khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

10. Việc sử dụng hạn chế quyền sở hữu công nghiệp có các quy định như thế nào?
Việc sử dụng hạn chế quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền của người của người đã sử dụng trước sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp. Việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sự sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp không phải xin phép, không phải trả thù lao cho chủ sở hữu
11. Quyền của người đã sử dụng trước sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp như thế nào?
Người đã sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp trước ngày chủ sở hữu nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ, thì có quyền tiếp tục được sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp đó, nhưng không được mở rộng khối lượng, phạm vi áp dụng và không được chuyển giao quyền sử dụng cho người khác. Tức là có sự dung hoà quyền lợi của người đã sử dụng trước và quyền lợi của người chủ sở hữu.

12. Việc sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp không phải xin phép, không phải trả thù lao cho chủ sở hữu như thế nào?
Nếu việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh hoặc sử dụng đó hoàn toàn hợp lệ do pháp luật quy định. Nói chung là việc sử dụng mang tính chất hợp pháp hoặc bộc phát nhất thời với lý do chính đáng, mục đích vô vụ lợi và không gây thiệt hại cho người sở hữu.

13. Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được quy định ra sao?
Người nào sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp của người khác trong thời hạn bảo hộ mà không xin phép chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp thì bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiêp. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp phải đảm bảo cho người chủ sở hữu quyền đó có đầy đủ năng quyền của mình theo luật quy định về quyền mình có.

14. Quyền của người được chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp trong trường hợp người sử dụng bị người thứ 3 xâm phạm thì được quy định như thế nào?
Người được chuyển giao có quyền yêu cầu chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiêp. Toà án buộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền sử dụng hợp pháp của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm đó. Nếu người được chuyển quyền đó khởi kiện tại toà án thì chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp phải tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp của mình. Quyền đó phải được pháp luật bảo vệ thoả đáng

15. Sự đảm bảo công nghệ được chuyển giao không bị quyền của người thứ 3 hạn chế là thế nào?
Phạm vi bảo đảm này do các bên thoả thuận nếu không có thoả thuận thì phạm vi bảo đảm là trên toàn lãnh thổ Việt Nam . Khi việc sử dụng công nghệ được chuyển giao bị quyền của người thứ 3 hạn chế trong phạm vi bảo đảm, thì bên được chuyển giao có quyền yêu cầu bên chuyển giao công nghệ khắc phục những hạn chế đó bằng chi phí của mình hoặc yêu cầu giảm giá. Trong trường hợp không thể khắc phục được hạn chế hoặc việc khắc phục đòi hỏi chi phí quá cao, thì các bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng; bên được chuyển giao công nghệ có quyền yêu cầu bên chuyển giao công nghệ phải bồi thường thiệt hại. Việc bị hạn chế do quyền của người thứ 3 nếu xảy ra là thuộc trách nhiệm của bên chuyển giao công nghệ.

16. Nội dung hợp đồng chuyển giao công nghệ ra sao?
Tuỳ theo đối tượng của hợp đồng chuyển giao công nghệ, các bên có thể thoả thuận các nội dung chủ yếu sau đây:
- Đối tượng hợp đồng, tên, đặc điểm công nghệ, nội dung công nghệ, kết quả áp dụng công nghệ;
- Chất lượng công nghệ, nội dung và thời hạn bảo hành công nghệ;
- Địa điểm, thời hạn, tiến độ chuyển giao công nghệ;
- Phạm vi, mức độ giữ bí mật công nghệ;
- Giá của công nghệ và phương thức thanh toán;
- Trách nhiệm của các bên về bảo hộ công nghệ
- Cam kết về đào tạo liên quan đến công nghệ được chuyển giao;
- Nghĩa vụ về hợp tác và thông tin của các bên;
- Điều kiện sửa đổi và huỷ bỏ hợp đồng;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và thủ tục giải quyết tranh chấp.
Nói chung là mọi yếu tố chi tiết quan trọng có liên quan đến việc chuyển giao và thực hiện.

17. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ như thế nào?
Các bên có thể thoả thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng chuyển giao công nghệ phải đăng ký hoặc xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính từ ngày đăng ký hoặc ngày cấp giấy phép.

18. Nội dung hợp đồng chuyển giao công nghệ được quy định như thế nào?
Tuỳ theo đối tượng của hợp đồng chuyển giao công nghệ, các bên có thể thoả thuận các nội dung chủ yếu sau đây;
- Đối tượng hợp đồng, tên, đặc điểm công nghệ, nội dung công nghệ, kết quả áp dụng công nghệ;
- Chất lượng công nghệ, nội dung và thời hạn bảo hành công nghệ;
- Địa điểm, thời hạn, tiến độ chuyển giao công nghệ;
- Phạm vi, mức độ giữ bí mật công nghệ;
- Giá của công nghệ và phương thức thanh toán;
- Trách nhiệm của các bên về bảo hộ công nghệ;
- Cam kết về đào tạo liên quan đến bảo hộ công nghệ được chuyển giao;
- Nghĩa vụ về hợp tác và thông tin của các bên;
- Điều kiện sửa đổi và huỷ bỏ hợp đồng;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và thủ tục giải quyết tranh chấp;

 

Ông Phạm ngọc Đóa tại Hội thảo SHTT

Ông Phạm Ngọc Đóa Tại Hội thảo về Truyền Thông SHTT


19. Thời hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ được tính đến khi nào?
Hợp đồng chuyển giao công nghệ có thời hạn không quá bảy năm, kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể cho phép kéo dài thời hạn hợp đồng, nhưng không quá mười năm. Thời hạn chuyển giao công nghệ theo các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được tính theo thời hạn đầu tư. Nói chung hợp đồng chuyển giao công nghệ dài nhất không quá 7 năm hoặc 10 năm nếu có gia hạn, không quá thời hạn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam

20. Quyền phát triển công nghệ được chuyển giao ra sao?
Bên được chuyển giao công nghệ có quyền phát triển công nghệ được chuyển giao mà không phải thông báo cho bên chuyển giao công nghệ biết, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Trong trường hợp bên chuyển giao công nghệ quan tâm đến kết quả phát triển công nghệ, thì bên chuyển giao thoả thuận với bên được chuyển giao về việc chuyển giao kết quả mới đạt đựoc theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi.
21. Nghĩa vụ giữ bí mật được quy định như thế nào?
Các bên thoả thuận về phạm vi, mức độ bảo mật đối với công nghệ được chuyển giao; nếu không có thoả thuận, thì bên được chuyển giao công nghệ phải giữ bí mật về tất cả các thông tin là nội dung hoặc có liên quan đến công nghệ được chuyển giao trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực như bảo vệ các thông tin bí mật của chính mình. Trong trường hợp bên được chuyển giao công nghệ vi phạm nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại cho bên chuyển giao công nghệ

22. Hợp đồng chuyển giao độc quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá ra sao?
Trong trường hợp các bên thoả thuận về chuyển giao độc quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, thì trong phạm vi độc quyền do các bên thoả thuận, bên chuyển giao độc quyền sử dụng các đối tượng trên không được chuyển giao quyền sử dụng cho người thứ ba. Trong trường hợp bên chuyển giao độc quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp vi phạm nghĩa vụ thì bên chuyển giao chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại hoặc huỷ bỏ hợp đồng. Bên chuyển giao phải tuân thủ các cam kết của mình với bên được chuyển giao để không làm thiệt hại đến quyền lợi của bên này.

23. Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá được quy định như thế nào?
Trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, các bên có thể thoả thuận bên được chuyển giao có nghĩa vụ phải bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hoá mang nhãn hiệu được chuyển giao phải tương đương với chất lượng sản phẩm, hàng hoá cùng loại mang nhãn hiệu hàng hoá của bên chuyển giao. Bên chuyển giao nhãn hiệu hàng hoá có quyền kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá của bên được chuyển giao; yêu cầu bên được chuyển giao phải thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hoá; huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên được chuyển giao không thực hiện hoặc thực hiện không có kết quả yêu cầu của mình. Tức bên được chuyển giao phải có nghĩa vụ bảo đảm uy tín chất lượng nhãn hiệu hàng hoá, sản phẩm đã có của bên chuyển giao.

24. Hợp đồng chuyển giao kết quả nghiên cứu, triển khai công nghệ mới được quy định như thế nào?
Trong hợp đồng chuyển giao kết quả nghiên cứu, triển khai công nghệ mới, các bên thoả thuận về trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, phương thức và mức trả thù lao cho tác giả tạo ra kết quả nghiên cứu, triển khai công nghệ đó. Trong trường hợp các bên không thoả thuận về trách nhiệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, thì bên được chuyển giao kết quả nghiên cứu, triển khai công nghệ mới, có quyền nộp đơn yêu cầu bảo hộ kết quả nghiên cứu, triển khai công nghệ  mới và phải trả thù lao cho tác giả khi sử dụng kết quả nghiên cứu, triển khai công nghệ đó.

25. Hợp đồng dịch vụ hỗ trợ tư vấn, công nghệ đào tạo nhân viên kỹ thuật, cung cấp thông tin về công nghệ được thực hiện như thế nào?
Theo hợp đồng dịch vụ hỗ trợ, tư vấn công nghệ, đào tạo nhân viên kỹ thuật, cung cấp thông tin về công nghệ, các bên phải thoả thuận về chất lượng dịch vụ và kết quả phải đạt được. Trong trường hợp các bên không thoả thuận về chất lượng dịch vụ và kết quả cần đạt được, thì bên thực hiện dịch vụ được xem là hoàn thành nghĩa vụ của mình, nếu đã thực hiện công việc dịch vụ thận trọng, theo đúng khả năng và trong thời hạn thoả thuận. Tức hoặc các bên cùng thoả thuận hoặc cùng thực hiện đúng trách nhiệm của mình chiếu theo hợp đồng đã có.   
26. Muốn sửa đổi, huỷ bỏ hợp đồng thì phải làm  những  gì?
Các bên phải thông báo cho nhau về những kiến thức khoa học, kỹ thuật mới ảnh hưởng tới việc thực hiện hợp đồng và phải xem xét về khả năng sửa đổi, huỷ bỏ hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng bị sửa đổi hoặc huỷ bỏ do ảnh hưởng của kiến thức khoa học, kỹ thuật mới mà các bên không thể lường trước được vào thời điểm ký kết hợp đồng, thì bên chuyển giao công nghệ phải chịu các chi phí phát sinh do việc sửa đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Hai bên cần phải thích ứng với các thay đổi của điều kiện bên ngoài để làm cho hợp đồng thích nghi hơn.   
27. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ bao gồm những đối tượng nào?
Các đối tượng được nhà nước bảo hộ bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật, quy định tại Điều 780 Bộ Luật Dân sự. Bên cạnh đó, còn có một sô đối tượng mới mà Bộ luật Dân sự chưa có như: thiết kế bô trí mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hoá
Ngoài các đối tượng đã được liệt kê tại Điều 780 Bộ Luật Dân sự trong lĩnh vực kinh doanh còn có các tài sản của cá nhân hoặc của một doanh nghiệp nhất định nào đó (ví dụ như tên thương mại, bí mật thương mại,...). Đây là những tài sản được các thương gia sử dụng riêng cho mình và qua quá trình phát triển, đã tạo ra giá trị thương mại, biến chúng thành tài sản riêng được bảo hộ. Việc bảo hộ các đối tượng này không phải thông qua thủ tục hình thức mà thông thường chỉ xuất hiện khi có sự xâm phạm quyền của chủ sở hữu.
Cần lưu ý rằng, đối tượng được bảo hộ theo pháp luật về sở hữu công nghiệp không phải chỉ là chính bản thân đối tượng đó mà còn là những lợi ích kinh tế, thương mại xuất phát từ đối tượng sở hữu công nghiệp. Lợi ích thương mại, kinh tế của các tài sản thuộc sở hữu công nghiệp sẽ bị mất đi nếu các đối tượng này bị bắt chước làm theo hoặc bị sử dụng hoặc bị gây nhầm lẫn hoặc bị công bố công khai...Do vậy, thực chất đối tượng bảo hộ ở đây là lợi ích kinh tế của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, đằng sau lợi ích kinh tế của tư nhân là lợi ích công cộng, lợi ích về khuyến khích phát triển khoa học và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng. Do vậy, việc bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp có nghĩa là nhà nước đảm bảo chỉ có chủ sở hữu mới có quyền sở hữu công nghiệp của họ. Nhà nước đảm bảo cho chủ sở hữu được yên ổn khai thác các lợi ích kinh tế đó và giúp chủ sở hữu chống lại các hành vi xâm phạm, làm hạn chế khả năng khai thác của chủ sở hữu.
Các giải pháp kỹ thuật muốn trở thành đối tượng sở hữu công nghiệp thì phải có tính mới so với trình độ thế giới. "Mới" ở đây có nghĩa là chưa được ai sử dụng một cách rõ ràng trước ngày nộp đơn xin bảo hộ, chưa bị ai công bố công khai bằng lời hoặc thông qua các ấn phẩm trước ngày nộp đơn xin bảo hộ. Pháp luật về sở hữu công nghiệp quy định chi tiết về những yếu tố làm hại tính mới phải xem xét trên bình diện quốc tế chứ không phải trong phạm vi của một quốc gia. Các giải pháp kỹ thuật phải có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội. Đây là điểm khác nhau căn bản giữa sáng chế, giải pháp hữu ích và các phát minh khoa học. Các phát minh khoa học phần lớn còn ở dạng lý thuyết, là các học thuyết chưa có khả năng áp dụng thực tế trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội do đó không được bảo hộ theo pháp luật sở hữu công nghiệp. Riêng đối với sáng chế thì ngoài các yêu cầu nói trên, giải pháp kỹ thuật phải có trình độ sáng tạo (tức phải là một tiến bộ kỹ thuật so với trình độ kỹ thuật chung của thế giới). Tính sáng tạo ở đây khác với tính sáng tạo cá nhân trong họat động văn hoá, nghệ thuật. Tính sáng tạo đối với sáng chế chỉ là việc tạo ra một cách không hiển nhiên, một bước tiến bộ cao hơn về mặt kỹ thuật so với trình độ trước ngày nộp đơn. Theo pháp lệnh về sở hữu công nghiệp năm 1989, tiêu chuẩn để bảo hộ một giải pháp hữu ích là một giải pháp kỹ thuật đó phải có tính mới tại Việt Nam . Tiêu chuẩn này rất thấp, nó nhằm khuyến khích việc du nhập công nghệ mà Việt Nam chưa có, bất kể công nghệ đó có trình độ cao hay thấp. Tuy nhiên, yêu cầu thấp đối với giải pháp hữu ích đã tạo ra nhiều nhược điểm lớn: nó khiến các nhà kỹ thuật không tiếp cận và sử dụng các thông tin quốc tế, làm giảm đi nỗ lực phấn đấu của nền công nghiệp Việt Nam; đồng thời khuyến khích tạo ra các giải pháp có trình độ kỹ thuật trung bình, khuyến khích cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài đăng ký các giải pháp kỹ thuật đã được phổ cập trong trình độ kỹ thuật quốc tế, phong toả các việc áp dụng kỹ thuật phổ cập của Việt Nam. Do vậy, Bộ Luật Dân sự yêu cầu giải pháp hữu ích phải có tính mới so với trình độ quốc tế và chỉ kém sáng chế về trình độ sáng tạo. Với quy định này, Bộ Luật Dân sự đã khắc phục được nhược điểm của quy định về giải pháp hữu ích trong Pháp lệnh về sở hữu công nghiệp năm 1989.
Đối với sáng chế, giải pháp hữu ích thì việc bảo hộ phải thông qua thủ tục hình thức, tức là phải nộp đơn bảo hộ của hai đối tượng này là nội dung các giải pháp kỹ thuật, đồ vật chứa đựng những nội dung và giải pháp đó (ví dụ: Máy móc, thiết bị và dụng cụ lao động) và những sản phẩm được tạo ra do việc áp dụng và ý tưởng là nội dung của giải pháp kỹ thuật.
Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình nổi, màu sắc hoặc kết hợp với yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công. Kiểu dáng công nghiệp phải có tính mới so với trình độ thế giới. Một kiểu dáng công nghiệp được coi là mới nếu nó khác biệt cơ bản so với các kiểu dáng công nghiệp tương tự và chưa sử dụng ở đâu, bằng bất cứ hình thức nào trên thế giới. Trong những kiểu dáng công nghiệp được trưng bày tại một triển lãm quốc tế được công nhận trước ngày nộp đơn, thì kiểu dáng công nghiệp đó vẫn được coi là mới, nếu trong vòng 6 tháng kể từ ngày bắt đầu triển lãm, đơn đăng ký bảo hộ được nộp tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Công ước Pari về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp). Kiểu dáng công nghiệp phải có khả năng dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp và phải khác biệt về căn bản với kiểu dáng công nghiệp tương tự đã được bảo hộ. Yêu cầu này đòi hỏi kiểu dáng công nghiệp phải chứa đựng sự tưởng tượng của các cá nhân tạo ra nó. Về mặt này, kiểu dáng công nghiệp có phần nào hơi giống các tác phẩm văn hoá nghệ thuật. Tuy nhiên sự tưởng tượng sáng tạo cá nhân phải ở một hình thức thể hiện nhất định và phù hợp với sở thích của nhiều người. Khác với nước ta và các nước theo hệ thống pháp luật thành văn, ở Mỹ kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ theo hai cách: theo pháp luật về sở hữu công nghiệp và theo pháp luật về quyền tác giả.
Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc là sự kết hợp các yếu tố đó bằng một hoặc nhiều màu sắc (Điều 785 Bộ Luật Dân sự). Trước hết một nhãn hiệu hàng hoá phải là một dấu hiệu dùng để đánh dấu sản phẩm, dịch vụ của một cơ sở sản xuất, kinh doanh hoặc để phân biệt chúng với hàng hoá, dịch vụ của một cơ sở khác. Dấu hiệu phải có tính độc lập nhất định so với hàng hoá, dịch vụ mà nó đánh dấu, chỉ rõ xí nghiệp sản xuất ra chúng. Những dấu hiệu chung chung không có khả năng phân biệt hoặc dễ gây nhầm lẫn cho người khác không được coi là nhãn hiệu hàng hoá và không được đăng ký và bảo hộ theo quy định cuả pháp luật Việt Nam .
Khác với ba đối tượng sở hữu công nghiệp nói ở phần trên, nhãn hiệu hàng hoá thực chất không phải là kết quả của một hoạt động trí tuệ. Nó chỉ là một biểu tượng có sẵn trong tài sản chung của cộng đồng được cá nhân hoặc pháp nhân dùng để đáng dấu hàng hoá hoặc dịch vụ riêng của mình. Việc sử dụng riêng dấu hiệu và nâng cao uy tín của dấu hiệu mà cá nhân, pháp nhân đã sử dụng cho sản phẩm, dịch vụ của mình đã tạo nên giá trị kinh tế của nhãn hiệu hàng hoá. Đến lúc này nhãn hiệu hàng hoá là biểu tượng cho năng lực và thành tích của một cơ sở sản xuất kinh doanh về một loại sản phẩm hoặc dịch vụ. Do vậy, nội dung bảo hộ đối với đối tượng này là việc cấm người khác sử dụng một nhãn hiệu tương tự hoặc giống hệt nhãn hiệu của người đăng ký đánh dấu cho sản phẩm, dịch vụ của mình. Thực chất, việc bảo hộ này một phần bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá, phần khác nhằm bảo vệ công chúng trước những việc làm hàng giả và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về xuất xứ hàng hoá. Ở đây đặc biệt nhấn mạnh đến chức năng bảo đảm của nhãn hiệu hàng hoá.
Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lý của một nước, địa phương với điều kiện những mặt hàng này có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người và cả hai yếu tố đó (Điều 786)
Điều cần khẳng định là tên gọi xuất xứ hàng hoá không phải là nhãn hiệu và tên thương mại. Tên gọi xuất xứ là tên địa lý (địa danh) của một nước hoặc một địa phương hoặc một khu vực (ví dụ như Phú Quốc, Hải Phòng...). Tên gọi xuất xứ hàng hoá thường được gắn với những mặt hàng có tính chất hoặc chất lượng đặc thù mà tính chất và chất lượng đặc thù này do các yếu tố độc đáo về địa lý, về con người của địa phương đó tạo nên (ví dụ vị ngọt của nước mắm Phan Thiết phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ánh sáng mặt trời và kỹ thuật muối cá của những người dân Phan Thiết).
Xuất xứ từ thực tế là một địa phương có thể có nhiều người cùng được hưởng những những yếu tố độc đáo về tự nhiên và con người của địa phương mình để sản xuất những sản phẩm có tính chất và chất lượng đặc thù, cho nên bất kỳ cá nhân, pháp nhân nào sản xuất, kinh doanh sản phẩm đặc biệt tại địa phương có yếu tố đặc trưng đều có quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá.
Việc bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá ở đây trước hết là để bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp có quyền sử dụng hợp pháp tên gọi xuất xứ và nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Tên gọi xuất xứ hàng hoá đó thực chất không phải xuất phát từ năng lực của từng doanh nghiệp mà là tài sản phi vật chất chung của từng địa phương. Cá nhân, các tổ chức kinh doanh khai thác lợi ích kinh tế từ tên gọi xuất xứ hàng hoá đó nên chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền cấm người khác sử dụng.
Điều 871 của Bộ luật Dân sự có quy định các đối tượng khác cũng có thể là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Các đối tượng này còn mập mờ chưa rõ, còn chỗ ngỏ để pháp luật quy định. Thông thường các nước coi các đối tượng thể hiện bằng năng lực và uy tín của doanh nghiệp nói chung (tên thương mại, biểu tượng doanh nghiệp...) hoặc các bí quyết trong kinh doanh, trong tổ chức sản xuất... là thuộc loại này. Đây là những tài sản do chính bản thân doanh nghiệp tạo ra và giữ làm của riêng để khai thác lợi ích từ các tài sản đó. Thông thường pháp luật không quy định chế độ bảo hộ toàn diện như đối với các đối tượng khác, mà chỉ bảo hộ khi có sự xâm phạm. Chủ sở hữu có thể cấm người khác sử dụng các đối tượng thuộc sở hữu của mình nếu chứng minh được người này đã xâm phạm quyền sở hữu của mình.
Nhà nước không bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo và các đối tượng khác mà pháp luật về sở hữu công nghiệp quy định không được bảo hộ (Điều 787).
Đối với các giải pháp kỹ thuật, mặc dù đáp ứng các yêu cầu về tính mới, có khả năng áp dụng trong thực tế, có trình độ kỹ thuật cao hơn trình độ trung bình, nhưng các giải pháp này trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, ở đây phải hiểu là trái với những nguyên tắc cơ bản của xã hội hiện tại. Ví dụ một giải pháp kỹ thuật tìm ra công cụ phạm tội sẽ không được công nhận và bảo hộ như một sáng chế. Cũng tương tự, các giải pháp kỹ thuật trái với nguyên tắc nhân đạo cũng không được bảo hộ là sáng chế hoặc giải pháp hữu ích.
Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật trái với nguyên tắc nhân đạo, lợi ích xã hội, trật tự công cộng, còn có một số giải pháp kỹ thuật khác cũng không được bảo hộ. Ví dụ: các chương trình máy tính điện tử, giống cây, giống con, chủng loại vi sinh vật, các phương pháp phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh cho người. Lý do không bảo hộ các đối tượng này khác nhau. Ví dụ đối với chương trình máy tính thì được bảo hộ theo các quy định pháp luật về quyền tác giả. Các phương pháp phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh thì ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới không bảo hộ độc quyền sử dụng các giải pháp đó vì để tạo điều kiện dễ dàng phục vụ mục đích nhân đạo. Các giống thực vật, động vật mới đến nay chưa được bảo hộ theo quy định của pháp luật về sở hữu công nghiệp. Nhà nước Việt Nam đang nghiên cứu để có chế độ bảo hộ thích hợp đối với đối tượng này.
Những đối tượng không được Nhà nước Việt Nam bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế, giải pháp hữu ích được liệt kê tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 63/CP ngày 24-10-1996. Những kiểu dáng không được nhà nước Việt Nam bảo hộ với danh nghĩa là kiểu dáng công nghiệp được liệt ke tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 63/CP nói trên.
Đối với nhãn hiệu hàng hoá, việc sử dụng chúng sẽ làm phương hại đến lợi ích xã hội, trật tự công cộng và nguyên tắc nhân đạo, thì một loạt các dấu hiệu được liệt kê tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 63/CP ngày 24-10-1996 cũng không được bảo hộ. Ví dụ như: Các dấu hiệu không có khả năng phân biệt (tập hợp các hình học, chữ số, chữ cái, hoặc chữ không thể phát âm được) trừ trường hợp nhãn hiệu này đã được sử dụng rộng rãi và được tín nhiệm từ trước (ví dụ như Bia 333). Các dấu hiệu quy ước (hình vẽ con rắn được sử dụng cho các loại thuốc tây, hoặc chữ "thuốc") cũng không được bảo hộ. Các dấu hiệu làm hiểu sai lệch về xuất xứ hàng hoá, các dấu hiệu giống hoặc tương tự với dấu hiệu tương tự với dấu hiệu chất lượng, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của Việt Nam, nước ngoài cũng như của các tổ chức quốc tế...; các dấu hiệu giống hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy, ảnh lãnh tụ, anh hùng dân tộc Việt Nam cũng như của nước ngoài; các biểu tượng, tên gọi của các tổ chức quốc tế...cũng không được bảo hộ như là nhãn hiệu hàng hoá, vì chúng không đáp ứng các tiêu chuẩn của nhãn hiệu hàng hoá. Ngoài ra đối tượng đã được liệt kê tại Điều 780 Bộ Luật Dân sự còn có các đối tượng khác thể hiện năng lực thành tích của toàn bộ doanh nghiệp như: Biểu tượng của doanh nghiệp, bí mật sản xuất, kinh doanh uy tín danh tiếng của doanh nghiệp đã được công chúng công nhận... Các đối tượng này được bảo hộ theo các căn cứ pháp luật trong trường hợp có xâm phạm hoặc theo quy định trong các quan hệ hợp đồng cụ thể.

28. Trường hợp có nhiều người cùng có một đối tượng sở hữu công nghiệp thì việc xác lập việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được thực hiện như thế nào?
Nguyên tắc được áp dụng ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới là thứ tự ưu tiên được xác định theo ngày ưu tiên (Điều 790). Việc xác lập, việc bảo hộ các đối tượng này phải theo những nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc được áp dụng ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới là thứ tự ưu tiên được xác định theo ngày ưu tiên (Điều 790).
1.   Quyền ưu tiên đối với đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá và các đối tượng sở hữu công nghiệp khác do pháp luật quy định được xác định theo ngày ưu tiên.
2.     Ngày ưu tiên là ngày đơn vị yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
3.  Trong trường hợp muốn hưởng quyền ưu tiên theo các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia, thì phải nêu rõ trong đơn về việc hưởng quyền đó. Người nộp đơn phải chứng minh về quyền ưu tiên của mình.
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, vị trí ưu tiên được xác định theo ngày nộp đơn xin bảo hộ. Riêng ở Mỹ, việc xác định thứ tự ưu tiên trên áp dụng theo nguyên tắc người tìm ra đầu tiên. Người nào tìm ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đầu tiên là người có quyền được công nhận quyền sở hữu và bảo hộ thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, kể cả trường hợp người đó nộp đơn yêu cầu bảo hộ sau người đó cũng tìm ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đúng hoặc tương tự như vây
Việt Nam là thành viên của Công ước Paris và Thoả ước Madrid. Do vậy, quyền ưu tiên trên quốc tế theo hai hiệp ước quốc tế trên cũng được áp dụng ở Việt Nam .

29. Việc bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp được chấm dứt khi nào?
Việc bảo hộ đối với đối tượng sở hữu công nghiệp được chấm dứt khi văn bằng bảo hộ hết hiệu lực. Văn bằng bảo hộ được coi là hết hiệu lực trong những trường hợp sau:
1.   Thời hạn bảo hộ:
Điều 791 Bộ Luật Dân sự quy định thời hạn bảo hộ nhưng không quy định rõ thời hạn đối với từng loại. Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 63/CP, thời hạn bảo hộ đối với sáng chế là 20 năm, đối với giải pháp hữu ích là 10 năm, đối với kiểu dáng công nghiệp là 5 năm, được quyền gia hạn 2 lần mỗi lần 5 năm, đối với nhãn hiệu hàng hoá là 10 năm, được quyền gia hạn liên tục..
2.   Đình chỉ hiệu lực của văn bằng
Hiệu lực của văn bằng bảo hộ có thể bị đình chỉ trước thời hạn, nếu chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp không nộp lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng bảo hộ đúng thời hạn hoặc chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá không sử dụng nhãn hiệu hàng hoá trong vòng 5 năm. Kể từ khi đăng ký, hoặc chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá hoặc người có quyền sử dụng hợp pháp nhãn hiệu hàng hoá chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc đình chỉ hiệu lực của văn bằng bảo hộ thứ nhất nói trên là hình thức chế tài áp dụng trong trường hợp có vi phạm nghĩa vụ về nộp lệ phí; trường hợp thứ hai là hình thức chế tài áp dụng đối với vi phạm nghĩa vụ cạnh tranh không lành mạnh; trường hợp thứ ba là trường hợp chấm dứt việc bảo hộ do không còn nhu cầu bảo hộ nữa.
Đối với việc đình chỉ hiệu lực do không nộp lệ phí đúng hạn, bên cạnh quy định của Bộ Luật Dân sự, pháp luật cần quy định cụ thể hơn về vi phạm trong thời hạn bao lâu và trước khi tuyên bố một văn bằng bảo hộ bị đình chỉ hiệu lực thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện những hành vi như thế nào.
Đối với trường hợp đình chỉ hiệu lực của văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá do chủ sở hữu không sử dụng hoặc không chuyển giao quyền sử dụng cho người khác trong vòng năm năm, kể từ ngày đăng ký thì đây là biện pháp để chống các hành vi không lành mạnh trong cạnh tranh. Trên thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp đăng ký rất nhiều nhãn hiệu để ngăn cản các doanh nghiệp khác sử dụng các dấu hiệu mà họ cho là có sức cạnh tranh lớn.
Việc huỷ bỏ, đình chỉ hiệu lực văn bằng bảo hộ do cơ quan đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ thực hiện và được đăng trên Công báo sở hữu công nghiệp. Việc huỷ bỏ và đình chỉ hiệu lực của văn bằng bảo hộ phải dựa trện cơ sở đơn của người thứ ba.
Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ hiệu lực của văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp là chấm dứt quyền bảo hộ và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với đối tượng sở hữu công nghiệp đã được cấp văn bằng kể từ thời điểm có hiệu lực

30. Và đối tượng nào được quyền nộp đơn xin yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp?
Về nguyên tắc, những người tạo ra sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp bằng chi phí và lao động của mình (tác giả) hoặc bằng chi phí đầu tư của mình (chủ thuê lao động hoặc người thuê nghiên cứu và triển khai khoa học kỹ thuật) có quyền nộp đơn yêu cầu Nhà nước bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp. Quyền nộp đơn xin yêu cầu bảo hộ là quyền do pháp luật quy định. Trong trường hợp đối tượng xin đăng ký có đủ các tiêu chuẩn do pháp luật quy định mà cơ quan có quyền không cấp văn bằng bảo hộ thì người có quyền nộp đơn khiếu nại. Quyền khiếu nại được quy định chi tiết tại Điều 27 Nghị định 63/CP ngay 24-10-1996. Cơ quan cấp cao nhất có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường. Bên cạnh đó người nộp đơn còn có quyền khởi kiện tại toà hành chính, nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Cục Sở hữu trí tuệ.
Đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp thì chỉ có cá nhân mới tạo ra chúng, vì đây là những kết quả lao động trí tuệ của cá nhân (tức là một người hoặc một nhóm người). Pháp nhân, doanh nghiệp không thể là tác giả các đối tượng nói trên.
Bên cạnh đó, cũng không ít trường hợp tác giả là người lao động theo quan hệ lao động hoặc theo quan hệ công chức, người làm thuê theo hợp đồng về nghiên cứu triển khai khoa học kỹ thuật và theo hợp đồng lao động. Nếu theo quy chế công chức, hợp đồng về thuê nghiên cứu triển khai khoa học và kỹ thuật không có quy định khác thì chủ thuê lao động, cơ quan chủ quản của công chức, cơ quan thuế nghiên cứu và triển khai có quyền chiếm hữu và có quyền nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp. Trong trường hợp này sở hữu và tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp là khác nhau. Quyền nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp có thể được chuyển giao cho người khác.
(MTV Media Biên tập)

 
LIÊN HỆ HOTLINE
Số 184 - Hải Thượng Lãn Ông - TP Hà Tĩnh - Hà Tĩnh - Việt Nam
Tel: (84)0393 858 572 -0947266568
Fax: (84)039 3697 788

Call
 
THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
THỜI TIẾT

Diendandulich.net
Đang Tải Dữ Liệu

QUẢNG CÁO